CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN NGẤT NGHIỆM PHÁP BÀN NGHIÊNG

CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN NGẤT  NGHIỆM PHÁP BÀN NGHIÊNG

BS Lê Trần Quốc Khánh – Khoa Nội tim mạch

Ngất( Syncope ) là tình trạng mất ý thức tạm thời do giảm tưới máu não với các đặc trưng:

  • Khởi phát nhanh
  • Thời gian ngất ngắn thường dưới 20 giây hiếm khi kéo dài vài phút.
  • Sau cơn hồi phục hoàn toàn.

Tuy tự hồi phục hoàn toàn nhưng trong nhiều trường hợp ngất gây ra hậu quả nghiêm trọng là chấn thương, nhất là khi đang điều khiển phương tiện cơ giới, khi đang leo trèo, khi 1 mình (trong nhà vệ sinh…).

Ngất có thể do các nguyên nhân khác nhau. Ngất có thể xảy ra thường xuyên, tùy thuộc vào nguyên nhân. Một số nguyên nhân gây ngất có thể bao gồm:

  • Ngất do phản xạ. Đây là hiện tượng huyết áp giảm đột ngột kèm theo hoặc không kèm theo giảm nhịp tim. Nguyên nhân là do phản ứng quá mức của các dây thần kinh kiểm soát nhịp tim và vận mạch.
  • Ngất do tim. Bao gồm các rối loạn nhịp tim, bệnh tim cấu trúc và các bệnh liên quan đến phổi tim và mạch máu lớn.
  • Ngất do hạ huyết áp tư thế đứng. Lưu ý hạ huyết áp có thể trầm trọng hơn khi ứ đọng tĩnh mạch trong khi gắng sức (tập thể dục), sau bữa ăn (hạ huyết áp sau ăn), và sau khi kéo dài nghỉ ngơi tại giường (deconditioning). Hạ huyết áp tư thế đứng do thuốc gây ra (nguyên nhân phổ biến nhất).

Cần tiến hành làm nghiệm pháp bàn nghiêng khi người bệnh bị ngất và các nguyên nhân khác đã được loại trừ.

Ở tư thế đứng thẳng hoặc đứng nghiêng, máu có xu hướng dồn xuống chân, điều này ít nhiều làm cho lượng máu về tim rồi lên não giảm đi. Bình thường cơ thể đáp ứng qua trung gian thần kinh thực vật bằng tăng nhẹ huyết áp (thần kinh tự chủ) và tần số tim (phản xạ phế vị). Nếu thần kinh tự chủ bị suy thì huyết áp không những không tăng mà còn giảm, gây ngất do tụt huyết áp ở tư thế đứng (orthostatic hypotension). Nếu phản xạ thần kinh thực vật bị rối loạn thì nhịp tim không những không tăng mà ngược lại còn giảm, thậm chí vô tâm thu 1 thời gian ngắn, khi đó ngất xảy ra, gọi là ngất do cường phế vị (vasovagal syncope). Một số trường hợp rối loạn đáp ứng qua trung gian thần kinh thể hiện bằng tăng tần số tim quá mức, thường tăng từ 30 nhịp/ phút trở lên, gọi là tim nhanh phản xạ do tư thế đứng (PoTS: Postural Tachycardia syndrome ).

Cơ chế phản xạ Benzold Jarisch

Trên cơ sở đó, những trường hợp đã từng bị ngất, nhất là ngất nhiều lần, đã được xác định là ngất không do bệnh tim, những trường hợp cần phân biệt ngất hay động kinh, giả ngất do rối loạn tâm lý, hoặc bị ngã nhiều lần mà không xác định được nguyên nhân thì có chỉ định làm nghiệm pháp bàn nghiêng.

Chống chỉ định của nghiệm pháp

  • Xơ vữa hẹp động mạch cảnh.
  • Bệnh lý động mạch vành.
  • Hẹp van động mạch chủ khít.
  • Bệnh cơ tim phì đại có hẹp tắc nghẽn đường ra thất trái.
  • Suy tim

Chuẩn bị gì trước khi thực hiện nghiệm pháp

– Giải thích cho người bệnh mục đích của nghiệm pháp và người bệnh đồng ý thực hiện nghiệm pháp.

– Không được ăn hoặc uống dưới 2 giờ trước khi làm nghiệm pháp.

– Bệnh nhân vẫn có thể sử dụng thuốc điều trị bệnh và chỉ ngừng thuốc khi có yêu cầu của Bác sỹ.

Nghiệm pháp bàn nghiêng có thể được thực hiện ở bệnh nhân ngoại trú hoặc trong thời gian người bệnh nằm viện. Các thủ tục có thể khác nhau tùy thuộc vào tình trạng của người bệnh và phương pháp thực hành của bác sĩ.

Quy trình thực hiện:

  1. Người bệnh sẽ được yêu cầu tháo tất cả đồ trang sức hoặc các đồ vật khác có thể gây trở ngại cho nghiệm pháp.
  2. Người bệnh sẽ được yêu cầu cởi bỏ quần áo thường và sẽ được cấp một bộ quần áo chuyên dụng.
  3. Người bệnh sẽ được yêu cầu đi vệ sinh cá nhân trước khi làm thủ thuật.
  4. Người bệnh được mắc các điện cực trước tim và điện cực ngoại biên ở tay và chân.
  5. Lắp băng cuốn huyết áp ở cánh tay.
  6. Đặt đường truyền tĩnh mạch.
  7. Người bệnh nằm ngửa được cố định bằng hệ thống đai bảo vệ chắc chắn vào bàn.
  8. Ghi lại các thông số theo dõi: nhịp tim, huyết áp, SpO2.
  9. Bước 1: Xoa xoang cảnh bên phải trước rồi bên trái trong 5 – 10 giây.

Bước 2:          Nghiêng bàn một góc 60 – 700 so với mặt phẳng ngang trong 10 đến 45 phút tùy thuộc vào từng người bệnh và nghi ngờ chẩn đoán. Tiếp tục xoa xoang cảnh lặp lại lần lượt ở bên phải, bên trái. Điện tâm đồ, nhịp tim và huyết áp được theo dõi liên tục và được đo ghi lại mỗi 5 phút.

Bước 3:          Sau khi kết thúc bước 2, xịt Glycerin trinitrate dưới lưỡi hoặc truyền isoprenaline qua đường tĩnh mạch 5mcg/phút, theo dõi 15 phút.

  1. Nghiệm pháp sẽ dừng lại ngay khi người bệnh chóng mặt, tụt huyết áp hoặc choáng ngất bất kỳ ở giai đoạn nào. Nếu không có triệu chứng gì, nghiệm pháp sẽ kết thúc sau 45 phút.
  2. Đánh giá kết quả
  3. Nghiệm pháp bàn nghiêng dương tính khi người bệnh có triệu chứng như choáng, chóng mặt, hoa mắt kèm theo tụt huyết áp, nhịp tim chậm hoặc cả hai.
  4. Nghiệm pháp âm tính khi người bệnh kết thúc nghiệm pháp không có triệu chứng gì.

Tai biến có thể xảy ra khi kiểm tra bàn nghiêng bao gồm:

Nghiệm pháp bàn nghiêng nói chung tương đối an toàn và hiếm khi xảy ra biến chứng nặng nề. Tuy nhiên, trong qúa trình làm nghiệm pháp có thể gây ra một số biến chứng như: tụt huyết áp kéo dài, hoặc nhịp tim quá chậm, vô tâm thu, rung thất hoặc nhịp nhanh thất.

Hiện nay khoa Nội tim mạch Bệnh viện Đa khoa Long An đã thực hiện nhiều thăm dò chức năng tim mạch đáp ứng được đa số các nhu cầu thăm dò chẩn đoán chức năng tim mạch trong đó có nghiệm pháp bàn nghiêng đã được triển khai trên 5 năm, là một trong những bệnh viện đầu tiên ở Tây Nam Bộ thực hiện nghiệm pháp này.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

viTiếng Việt