Phẫu thuật kích thích não sâu-triển vọng mới trong điều trị bệnh parkinson

PHẪU THUẬT KÍCH THÍCH NÃO SÂU-TRIỂN VỌNG MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ  BỆNH PARKINSON

 

BS. Trần Thị Ngọc Trang- Khoa Nội Thần Kinh

     Bệnh Parkinson (PD) là bệnh thoái hóa thần kinh tiến triển mạn tính, ảnh hưởng đến 1% dân số trên 65 tuổi, đặc trưng bởi ít nhất 2 trong 3 triệu chứng: run cơ khi nghỉ, giảm động và tăng trương lực cơ. Giai đoạn sau, bệnh nhân có thế mất thăng bằng tư thế. Rối loạn nhận thức và sa sút trí tuệ rất thường gặp (tới 1/3 số bệnh nhân trong nhiều nghiên cứu, cao gấp 6 lần những người cùng lứa tuổi), 1/3 bệnh nhân bị trầm cảm, rối loạn khướu giác và giấc ngủ thường gặp và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.

     Việc điều trị chủ yếu dùng thuốc nhằm 2 mục tiêu: bảo vệ hệ thần kinh và điều trị triệu chứng. Ở giai đoạn đầu, việc dùng thuốc thường mang lại hiệu quả ấn tượng, gọi là thời kỳ “honey moon”, kéo dài 4-5 năm từ lúc khởi phát. Về sau, việc đáp ứng với thuốc kém dần, đồng nghĩa với việc tăng liều thuốc và xuất hiện thêm nhiều biến chứng (giai đoạn wearing-off, rối loạn vận động On-Off, triệu chứng kháng Dopamin, giảm nhận thức). Từ đó, phẫu thuật kích thích não sâu (DBS) ra đời, như là một phương pháp điều trị hữu hiệu khi kết hợp với trị liệu bằng thuốc.

     DBS đã phát triển trong 20 năm qua như một lựa chọn đặc biệt cho một số chứng rối loạn khác nhau. Kích thích nhân bụng trung gian của đồi thị giúp cải thiện rõ rệt kiểm soát run ở những bênh nhân run vô căn và run do Parkinson. Các triệu chứng chậm vận động, run, rối loạn dáng đi, tăng trương lực cơ có thể được cải thiện ở bệnh nhân PD, từ đó giúp giảm liều thuốc và giảm tác dụng phụ của thuốc.

      Phẫu thuật đã được FDA chấp thuận từ năm 2002 cho điều trị PD. Đây là một phương pháp phẫu thuât sọ não nhằm đưa điện cực vào đúng các cấu trúc sâu trong não (targets). Hai targets được FDA chấp thuận trong điều trị PD là nhân dưới đồi (STN) và nhân cầu nhạt (GPi).  Các điện cực hoặc dây dẫn tạo ra các xung điện kiểm soát các hoạt động bất thường của não. Các xung điện cũng có thể điều chỉnh sự mất cân bằng hóa học trong não gây ra bởi các tình trạng khác nhau. Kích thích các vùng não được điều khiển bởi một máy phát được lâp trình sẵn đặt dưới da vùng ngực trên. Tuổi thọ trung bình của pin khoảng 5 năm tùy cường độ điện sử dụng.

     Quy trình phẫu thuật DBS thường được thực hiện khi bệnh nhân tỉnh táo và sử dụng hệ thống định vị lập thể. Các cấu trúc giải phẫu đường giữa, như mép trước và mép sau là những mốc đáng tin cậy trong việc xác định các targets. Sau khi gây tê vùng da đầu, bác sĩ sẽ tạo một lỗ nhỏ trên sọ. Việc xác định các nhân sâu sẽ dựa trên việc phối hợp hình ảnh cộng hưởng từ hoặc cắt lớp vi tính, các mặt cắt lập thể và các bản ghi vi điện cực. Mặc dù không cần thiết, các bản ghi vi điện cực cho phép kích thích các vùng targets và có thể hỗ trợ định vị các điện cực cố định. Sau khi đặt điện cực, dây dẫn và bộ tạo xung được cấy vào. Thiết bị được lập trình thông qua một remote lập trình qua da cho phép thực hiện vô số tùy chọn trị liệu. Ngoài ra, tính năng lập trình cho phép điều chỉnh liên tục dựa trên bản chất động của hệ thần kinh trung ương và sự tiến triển của bệnh. Những rủi ro chính của DBS là xuất huyết, lú lẫn thoáng qua, nhiễm trùng, đứt gãy, sai vị trí hoặc dịch chuyển dây dẫn. Tỷ lệ tử vong trung bình đối với phẫu thuật DBS là 3%-4%.

Hình trái: Điện cực vĩnh viễn của DBS, gồm 4 tiếp điểm ở đầu xa của chuyển đạo, mỗi điểm dài 1,5mm. Hình phải: Minh họa chuyển đạo DBS, dây dẫn và vị trí dưới đòn của máy phát xung.
Thiết bị lập trình qua da
Hình ảnh MRI cắt ngang mô tả vị trí điện cực nằm song song vùng đồi thị

     Hiện nay, ở nước ta, DBS vẫn chưa được triển khai rộng rãi do những khó khăn về nhân lực cũng như chi phí thanh toán cho 1 ca phẫu thuật. Tuy nhiên, với những ưu điểm vượt trội, hy vọng tương lai không xa, phẫu thuật DBS sẽ phát triển rộng rải hơn nhằm mang lại một cuộc sống thoải mái hơn cho bệnh nhân Parkinson nói riêng và bệnh nhân mắc rối loạn vận động nói chung./.

Tham khảo từ Mark K. Lyons (2011)” Deep Brain Stimulation: Current and Future Clinical Applications”, Mayo Clin Proc, 86(7), pp.662-672.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

viTiếng Việt