VIÊM GAN VI RÚT B MẠN TÍNH “ TÊN SÁT NHÂN GIẤU MẶT ”

VIÊM GAN VI RÚT B MẠN TÍNH “ TÊN SÁT NHÂN GIẤU MẶT ”

BS.CKI. ĐẶNG ANH TUẤN – TK KHOA NHIỄM

Tình hình nhiễm viêm gan siêu vi B mạn tính như thế nào?

Bệnh viêm gan virút B mạn tính là hậu quả của tình trạng nhiễm trùng do virút viêm gan B (HBV = Hepatitis B virus) gây ra. TheoTổ chức y tế Thế giới và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, Việt Nam là một trong những quốc gia đứng hàng đầu về tần suất nhiễm viêm gan siêu vi B và tỉ lệ nhiễm là từ 10-30% dân số qua xét nghiệm thấy có virút viêm gan B trong máu. Một điều rất đáng lo ngại là mẹ lây truyền cho con thì trên 90% số trẻ này tiến triển thành viêm gan virút B mạn tính, ngược lại khi nhiễm virút viêm gan B không do mẹ truyền cho thì khoảng 90% tự loại khỏi virút khỏi cơ thể và có kháng thể miễn dịch viêm gan B.

Đường lây viêm gan siêu vi B?

Bệnh lây qua 3 đường chính:

Một là đường máu như là tiêm chích ma túy, truyền máu, châm cứu, nhổ răng, làm móng, hay các thủ thuật xâm lấn…bởi các dụng cụ bị nhiễm virút viêm gan B.

Hai là viêm gan siêu vi B  lây qua đường quan hệ tình dục không an toàn.

Ba là đường mẹ sang con trong lúc mang thai và truyền cho con khi sinh nở.

Diễn tiến của viêm gan siêu vi B như thế nào?

Nếu không có yếu tố nguy cơ gây hại tế bào gan ở người viêm gan virút B như: Uống rượu bia, béo phì, gan nhiễm mỡ hay bị các tác nhân lý hóa khác thì HBV chỉ nhân bản thành các virút không hoàn chỉnh (chỉ có vỏ capsid mà không có lổi DNA) và tạo được một số lượng rất giới hạn các virút hoàn chỉnh do vậy họ chỉ là các người lành mang virut viêm gan B mà thôi chứ không phát triển thành viêm gan mạn tính. Tuy nhiên, nếu có các yếu tố nguy cơ gây tổn thương tế bào gan xảy ra thì virut viêm gan B sẽ phát triển nhiều hơn trong tế bào gan, do vậy lượng virút hoàn chỉnh sẽ phóng thích nhiều hơn vào máu, đồng thời gây tổn hại tế bào gan để trở thành bệnh viêm gan mạn tính và diễn tiến cuối cùng là xơ gan và ung thư gan.

Biểu hiện của bệnh viêm gan siêu vi B mạn là gì?

Viêm gan virút B mạn tính thường đa số không có triệu chứng lâm sàng hoặc số ít chỉ có mệt mỏi, uể oải, ăn uống chậm tiêu và tiến triển âm thầm, nếu ta không kiểm soát được sự nhân bản của virut  thì viêm gan mạn tính sẽ dẫn đến hậu quả khó lường là đến khi có biểu hiện lâm sàng của xơ gan hay là ung thư gan mà nguyên nhân chính là do virút viêm gan B, nên ta ví viêm gan siêu vi B mạn như là “ tên sát nhân giấu mặt ”.

Làm gì để phát hiện bệnh viêm gan siêu B mạn?

 Vì thường không có triệu chứng đặc hiệu, do đó vai trò của xét nghiệm trong chẩn đoán viêm gan do virút B giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Có nhiều loại xét nghiệm khác nhau được sử dụng trong chẩn đoán viêm gan virút B, mỗi loại có một ý nghĩa khác nhau tùy vào từng giai đoạn của bệnh mà người bác sĩ sẽ lựa chọn xét nghiệm thích hợp. Các xét nghiệm cơ bản thường là: HBsAg là xét nghiệm chẩn đoán có mang kháng nguyên virút B trong máu, Anti HBs là sự hiện diện kháng thể chống kháng nguyên HBsAg gặp ở người đã được tiêm ngừa viêm gan virút B hay người mắc viêm gan virút B nay đã loại trừ virút khỏi cơ thể, HBeAg là kháng nguyên chứng tỏ rằng virút viêm gan B đang tăng sinh, Anti HBe là kháng thể chống kháng nguyên HBeAg là kết quả đánh giá hiệu quả điều trị tiến triển tốt, IgM Anti HBc  là kháng thể chống kháng nguyên HBcAg là xét nghiệm đánh giá tình trạng viêm gan virút B cấp tính và ngược lại IgG Anti HBc là kháng thể chống kháng nguyên HBcAg là xét nghiệm đánh giá tình trạng đã nhiễm viêm gan virút B trước đó . Hiện nay nhờ sự phát triển kỹ thuật sinh học phân tử ta phát hiện được HBV-DNA và định lượng được HBV-DNA là bao nhiêu nên rất có ý nghĩa quyết định điều trị và theo dõi trong quá trình điều trị.

Khi nào thì điều trị đặc hiệu?

Không phải bệnh nhân viêm gan virút B nào cũng nhất thiết điều trị ngay, mà việc điều trị tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh. Nếu ở giai đoạn viêm gan không hoạt động như HBeAg âm tính, men gan (ALT) bình thường và lượng  virút (lượng HVB) trong máu dưới 105 copies/ml máu thì không cần thiết phải điều trị vì virut  vẫn còn nhân bản rất giới hạn trong tế bào gan và chưa gây tổn hại tế bào gan nên theo dõi tiếp mỗi 3-6 tháng. Nếu virút hoạt động biểu hiện HBeAg dương tính và lượng HBV trên 105 /ml máu hoặc HBeAg âm tính và lượng virút trong máu dưới 104 copies/ml và kèm men gan (ALT) tăng 2 lần so trị số bình thường thì phải cho chỉ định điều trị bằng thuốc kháng virút hay thuốc điều hòa miễn dịch.

Việc điều trị Viêm gan siêu vi B như thế nào?

Hiện nay có rất nhiều thuốc điều trị viêm gan virút B nhưng việc điều trị lại vô cùng phức tạp nhất là sự tuân thủ điều trị của người bệnh do điều trị lâu dài và rất tốn kém. Các thuốc kháng virút như: Lamivudin, Adefovir, Telbivudin, Entercavir, Tenofovir… Các thuốc điều hòa miễn dịch như: Interferon, Peg Inter feron… rất hiệu quả trong các trường hợp kháng thuốc, tuy nhiên các thuốc này rất đắt tiền và tác dụng phụ không nhỏ nên rất cân nhắc chỉ định.

Theo dõi điều trị như thế nào?

Theo dõi điều trị và tuân thủ điều trị là hết sức quan trọng, thường mỗi tháng nên tái khám đánh giá lâm sàng và thường 3 tháng nên xét nghiệm đánh giá chức năng gan và lượng virút trong máu 3 đến 6 tháng một lần. Ngoài việc tuân thủ điều trị bệnh nhân nên tránh các yếu tố gây độc hại cho gan như: Rượu bia, hay các tác nhân lý hóa, thuốc gây độc cho gan…

Khi nào thì ngưng điều trị?

Trước đây việc ngưng thuốc phụ thuộc vào sự chuyển đổi huyết thanh  HBeAg từ dương sang âm, và men gan trờ về bình thường. Hiện nay, thường dựa vào lượng HBV âm tính, khuyến cáo nên ngưng thuốc khi lượng virut  âm tính ít nhất 2 lần liên tục và kéo dài trên 6 tháng thì tỉ lệ tái phát sẽ thấp hơn, tuy nhiên khi ngưng dùng thuốc cũng nên tái khám mỗi 3-6 tháng một lần nhằm phát hiện tình trạng tái phát.

Chủng ngừa viêm gan như thế nào?

Chủng ngừa viêm gan virút B làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh viêm gan do virút B, điều này rất có ý nghĩa cho trẻ lớn và người lớn vì trước khi khi tiêm ngừa thì kiểm tra xem có nhiễm viêm gan B hay chưa, nhưng cũng đáng ngại với trẻ con có mẹ nhiễm viêm gan virút trước khi sinh vì trẻ sinh ra không được tầm soát trước khi tiêm ngừa. Vì vậy nên tầm soát  bà mẹ có thai mang virút B hay không để điều trị làm giảm tỉ lệ lây truyền và trẻ sinh ra nên tiêm Globulin miễn dịch sớm.

Hiện nay vaccin viêm gan virút B được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng với lịch tiêm cho trẻ con như sau: Mũi 1 tiêm sau sinh càng sớm càng tốt, mũi 2 vào tháng thứ 2, và mũi 3 vào tháng thứ 4.

 Lịch tiêm cho người lớn:

+ Đối với đối tượng nguy cơ tiêm mũi 1 khi có chỉ định tiêm ngừa, mũi 2 cách mũi 1 sau 1 tháng, mũi 3 cách mũi 2 sau 1 tháng, mũi 4 cách mũi 1 sau 1 năm và nhắc lại sau 5 năm.

+ Đối với đối tượng không nguy cơ mũi 1 khi có chỉ định, mũi 2 cách mũi 1 sau 1 tháng, mũi 3 cách mũi 1 sau 6 tháng và nhắc lại sau 5 năm.

Để giảm tỉ lệ xơ gan và ung thư gan do viêm gan virút B, ta nên tầm soát có nhiễm virút viêm gan B hay không nếu không có thì nên tiêm ngừa phòng bệnh, còn nếu nhiễm thì thăm khám xem bệnh ở giai đoạn nào có cần thiết điều trị hay chưa, nếu có chỉ định thì nên điều trị và tuân thủ thật tốt, bên cạnh đó nên tránh các yếu tố gây độc hại cho gan có như thế mới điều trị hiệu quả.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

viTiếng Việt